Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

Tác động cộng hưởng của đại dự án hạ tầng và tốc độ đô thị hóa đến bước ngoặt phát triển ngành bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2026-2030

 

Tác động cộng hưởng của đại dự án hạ tầng và tốc độ đô thị hóa đến bước ngoặt phát triển ngành bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2026-2030

Tái cấu trúc không gian kinh tế và động lực đô thị hóa giai đoạn 2026-2030

Việt Nam đang bước vào một chu kỳ phát triển mới đầy bứt phá với mục tiêu nâng tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đạt tối thiểu 50% vào năm 2030. Quyết định số 836/QĐ-BXD phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và nông thôn thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã chính thức xác lập một hệ tư duy mới trong quản lý lãnh thổ, dịch chuyển mạnh mẽ từ quản lý địa giới hành chính thuần túy sang cấu trúc không gian phát triển tổng thể dựa trên mạng lưới liên kết và dữ liệu số. Hệ thống đô thị và nông thôn quốc gia từ đây sẽ được vận hành theo cấu trúc "Cực - Vùng - Hành lang - Mạng lưới", đảm bảo tính tương hỗ tối đa giữa đất liền, không gian biển và hệ thống hạ tầng kỹ thuật quốc gia.

Để dẫn dắt tăng trưởng kinh tế, bản quy hoạch này định hình rõ nét bốn vùng đô thị lớn làm đầu tàu phát triển. Vùng đô thị Hà Nội được quy hoạch theo mô hình chùm đô thị đa cực, mở rộng nghiên cứu kết nối với năm tỉnh lân cận bao gồm Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên và Ninh Bình, lấy trục sông Hồng làm hành lang cảnh quan sinh thái văn hóa cốt lõi. Vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh tập trung khai thác vai trò trung tâm tài chính, logistics quốc tế và phát triển kinh tế số. Vùng đô thị Đà Nẵng - Huế đóng vai trò động lực cho miền Trung với định hướng kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu và du lịch di sản. Cuối cùng, vùng đô thị Cần Thơ giữ vai trò cực tăng trưởng của Đồng bằng sông Cửu Long với thế mạnh về nông nghiệp hiện đại, kinh tế sông nước và logistics thích ứng biến đổi khí hậu.

Sự chuyển dịch không gian này thúc đẩy quá trình đô thị hóa thực tế diễn ra nhanh chóng tại các địa phương vệ tinh. Điển hình như tại Hưng Yên, tiến trình nâng cấp hàng loạt xã lên phường không chỉ thay đổi diện mạo hành chính mà còn mở rộng đáng kể ranh giới đô thị tiêu dùng. Khi cư dân chuyển dịch từ mô hình tự cung tự cấp sang lối sống đô thị, nhu cầu mua sắm tiêu dùng hiện đại lập tức bùng nổ. Theo dự báo, tầng lớp trung lưu tại Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh mẽ và chiếm hơn 55% dân số vào năm 2030. Đây là lực lượng tiêu dùng chủ chốt, đòi hỏi các tiêu chuẩn cao hơn về chất lượng hàng hóa, tính tiện lợi và các dịch vụ đi kèm, tạo bệ đỡ cho sự phát triển dài hạn của ngành bán lẻ.

Thực tế cho thấy, nền tảng vĩ mô trong những tháng đầu năm 2026 đã ghi nhận những chỉ số vô cùng khả quan, củng cố thêm niềm tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 445 tỷ USD, tương ứng với mức tăng trưởng 25%, trong khi dòng vốn FDI đăng ký đạt trên 24 tỷ USD, tăng hơn 33,4%. Song hành với đó, thị trường nội địa tiếp tục đóng vai trò bệ đỡ chiến lược với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,2% , mức cao nhất kể từ năm 2024. Đóng góp vào kết quả này còn có sự bùng nổ của ngành du lịch khi đón gần 11 triệu lượt khách quốc tế, tăng gần 15% so với cùng kỳ.

Chỉ tiêu quy hoạch phát triển đô thị và hạ tầng giao thông Việt Nam giai đoạn 2026-2030

Chỉ tiêu phát triểnMục tiêu đến năm 2030Cơ sở pháp lý và dự báo
Tỷ lệ đô thị hóa toàn quốcĐạt tối thiểu 50%

Quyết định 836/QĐ-BXD

Tỷ lệ dân số thuộc tầng lớp trung lưuChiếm trên 55% dân số

Dự báo của PwC Việt Nam

Tổng chiều dài mạng lưới đường bộ cao tốcĐạt khoảng 8.923 km (43 tuyến)

Quyết định 2470/QĐ-BXD

Tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ logisticsĐạt từ 12% đến 15% hằng năm

Quyết định 2229/QĐ-TTg

Tỷ trọng đóng góp của logistics vào GDPĐạt từ 5% đến 7%

Quyết định 2229/QĐ-TTg

Mục tiêu giảm chi phí logistics quốc giaGiảm xuống tương đương 12% - 15% GDP

Chiến lược phát triển thị trường nội địa

Tăng trưởng tổng mức bán lẻ và dịch vụ tiêu dùngĐạt mức 14% - 15% hằng năm

Định hướng giai đoạn 2026-2030

Tăng trưởng thương mại điện tửĐạt bình quân 23% - 25% mỗi năm

Định hướng giai đoạn 2026-2030

Đại lộ hạ tầng giao thông kết nối liên vùng

Sự phát triển của ngành bán lẻ không thể tách rời sự bứt phá của hệ thống hạ tầng giao thông kết nối. Quyết định số 2470/QĐ-BXD phê duyệt Quy hoạch kết cấu hạ tầng đường bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã vạch ra lộ trình đầu tư đồng bộ cho hệ thống đường cao tốc quốc gia gồm 43 tuyến với tổng chiều dài khoảng 8.923 km. Trong đó, trục dọc Bắc - Nam được củng cố bằng hai hành lang then chốt là cao tốc Bắc - Nam phía Đông chiều dài khoảng 2.065 km và cao tốc Bắc - Nam phía Tây chiều dài khoảng 1.205 km. Hệ thống quốc lộ cũng được quy hoạch toàn diện với 172 tuyến, tổng chiều dài khoảng 28.614 km, củng cố tính kết nối liên thông giữa các vùng kinh tế.

Dấu mốc lịch sử được thiết lập vào ngày 19/12/2025 khi mạng lưới đường cao tốc quốc gia vượt mục tiêu 3.000 km, nối thông một dải từ Cao Bằng đến Cà Mau và đạt tổng chiều dài thực tế hơn 3.800 km. Thực tiễn triển khai cho thấy sự dịch chuyển rõ nét về cơ cấu nguồn vốn khi tỷ trọng nguồn lực tư nhân tham gia đầu tư theo mô hình đối tác công tư ngày càng tăng theo định hướng của Nghị quyết số 68-NQ/TW. Điều này cho thấy vai trò của hạ tầng giao thông như một động lực dẫn dắt không gian kinh tế mới, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường của các nhà phân phối.

Tại hai siêu đô thị Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các dự án đường vành đai và kết nối sân bay quốc tế Long Thành đang được đẩy nhanh tiến độ thi công vượt bậc. Đối với vùng Thủ đô, Hà Nội đang dồn lực cho dự án đường Vành đai 4 với tổng chiều dài quy hoạch khoảng 417 km. Hiện tại, có 9 trên 12 gói thầu đang được thi công đồng loạt, tập trung vào các hạng mục cầu vượt sông lớn như cầu Hồng Hà, cầu Mễ Sở, cầu Hoài Thượng nhằm hoàn thành trước Hội nghị APEC 2027 và thông xe toàn tuyến vào năm 2027. Điển hình tại gói thầu số 11 qua địa bàn Thường Tín, khối lượng thực hiện đã đạt tới 85%, nền đất yếu đã được xử lý xong và dự kiến hoàn thành thảm nhựa toàn bộ vào quý III năm 2026.

Tại phía Nam, đường Vành đai 3 Thành phố Hồ Chí Minh đang được tăng tốc thi công nhằm đồng bộ hóa hạ tầng kết nối. Đoạn Tân Vạn - Nhơn Trạch dài 8,2 km đã đưa vào khai thác từ tháng 8 năm 2025, phần còn lại dài 76,34 km đi qua Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Tây Ninh đã hoàn tất bồi thường giải phóng mặt bằng, đạt khối lượng thi công khoảng 80% và dự kiến về đích vào năm 2026. Song song đó, dự án đường Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh dài khoảng 207 km, quy mô vốn hơn 120.400 tỷ đồng đã thông qua chủ trương đầu tư và dự kiến khởi công vào tháng 9 năm 2026. Các vành đai này sẽ tạo ra các hành lang phát triển công nghiệp, đô thị và dịch vụ đồng bộ, tương tự kế hoạch phát triển vành đai logistics dọc Vành đai 4 tại tỉnh Bình Dương.

Mạng lưới giao thông kết nối sân bay quốc tế Long Thành cũng được ưu tiên tuyệt đối nhằm thúc đẩy khả năng trung chuyển hàng hóa và hành khách. Thành phố Hồ Chí Minh đang cấp tập chuẩn bị khởi công hàng loạt dự án kết nối trọng điểm, bao gồm tuyến liên cảng Cát Lái - Phú Hữu kết nối Vành đai 3 và cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây với tổng mức đầu tư 8.782 tỷ đồng cho giai đoạn thực hiện 2026-2028, cầu Thủ Thiêm 4 với tổng vốn 5.063,6 tỷ đồng thực hiện từ năm 2026 đến năm 2028, và cầu đường Bình Tiên trị giá 6.275 tỷ đồng thực hiện trong cùng giai đoạn. Dự án cao tốc đô thị Hồ Tràm - sân bay Long Thành dài 42 km với quy mô 51.516 tỷ đồng cũng dự kiến khởi công trong năm 2026 và hoàn thành vào năm 2029.

Hạ tầng giao thông tĩnh cũng được bổ sung thông qua dự án Công viên văn hóa Bến Nhà Rồng - Khánh Hội quy mô 30.000 tỷ đồng, tích hợp ngầm hóa một phần đường Tôn Đức Thắng và mở rộng đường Nguyễn Tất Thành lên 8-10 làn xe. Sự phát triển của hệ thống tàu điện với kế hoạch xây dựng 18 tuyến tại Hà Nội và 12 tuyến tại Thành phố Hồ Chí Minh, đạt tổng chiều dài hơn 2.224 km với tổng nhu cầu vốn khoảng 743.907 tỷ đồng, hứa hẹn sẽ thay đổi hoàn toàn thói quen di chuyển và định hình các không gian thương mại dịch vụ theo mô hình TOD tại các nhà ga đô thị.

Logistics quốc gia và quá trình tối ưu chi phí phân phối

Hệ thống hạ tầng giao thông khổng lồ đang triển khai trực tiếp tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất của ngành bán lẻ Việt Nam là chi phí logistics. Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam được phê duyệt tại Quyết định số 2229/QĐ-TTg đặt ra những mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2025-2035, hướng đến tốc độ tăng trưởng ngành đạt từ 12% đến 15% hằng năm và nâng tỷ trọng đóng góp vào GDP lên 5% - 7%. Mục tiêu cốt lõi của chiến lược phát triển thị trường trong nước giai đoạn mới là giảm chi phí logistics quốc gia xuống mức tương đương 12% - 15% GDP , thay vì mức cao 16% - 18% GDP như các dự thảo trước đó.

Sự cắt giảm chi phí này được thực thi thông qua việc hình thành các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản bền vững tại các vùng nguyên liệu chủ lực kết nối trực tiếp với hệ thống trung tâm logistics nông sản. Việc rút ngắn thời gian vận chuyển trên các cung đường cao tốc không chỉ giúp giảm chi phí nhiên liệu mà còn hạn chế tối đa tỷ lệ hao hụt hàng hóa tươi sống. Ví dụ như việc hình thành trung tâm logistics quy mô 30 ha tại cửa ngõ cao tốc Hậu Giang - Cà Mau sẽ giúp nâng cao đáng kể năng lực cạnh tranh cho nông thủy sản khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trước khi phân phối đến các thị trường tiêu thụ lớn.

Đồng thời, việc đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư cảng biển kết hợp với chuyển giao quản lý các cảng thủy nội địa về địa phương trong giai đoạn 2026-2030 sẽ khơi thông hệ thống luồng tuyến vận tải thủy. Sự dịch chuyển sang logistics thân thiện với môi trường và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về hạ tầng logistics, bao gồm cả bản đồ số hạ tầng, đang hỗ trợ các doanh nghiệp bán lẻ tối ưu hóa lộ trình phân phối hàng hóa, giảm thiểu tình trạng xe chạy rỗng và tối đa hóa hiệu suất sử dụng kho bãi. Điều này cải thiện biên lợi nhuận gộp cho toàn ngành bán lẻ, cho phép các doanh nghiệp áp dụng các chính sách giá bán cạnh tranh hơn để kích cầu tiêu dùng nội địa.

Sự trỗi dậy và dư địa tăng trưởng của kênh bán lẻ hiện đại (Modern Trade)

Thị trường bán lẻ Việt Nam đang bước vào một giai đoạn tăng trưởng bứt phá mang tính cấu trúc, với quy mô dự kiến đạt 547 tỷ USD vào năm 2030, tăng tới 77% so với quy mô năm 2025, đạt tốc độ tăng trưởng kép hằng năm vượt mức 12%. Riêng ngành hàng tiêu dùng nhanh được dự báo sẽ chạm mốc 85 tỷ USD vào năm 2030, mở ra một không gian mở rộng vô cùng lớn cho các mô hình cửa hàng hiện đại.

Động lực tăng trưởng chính của thị trường đến từ làn sóng chuyển dịch mạnh mẽ từ kênh truyền thống sang kênh bán lẻ hiện đại. Tỷ trọng kênh bán lẻ hiện đại tại Việt Nam đã đạt khoảng 27% vào năm 2025 và dự báo sẽ tăng nhanh lên mức 35% vào năm 2030, ghi nhận tốc độ chuyển dịch nhanh nhất trong khu vực ASEAN. Tuy nhiên, dư địa phát triển vẫn còn cực kỳ rộng lớn khi tỷ trọng này vẫn thấp hơn rất nhiều so với mức 50% - 60% tại các quốc gia lân cận.

So sánh mật độ cửa hàng và tỷ lệ thâm nhập bán lẻ hiện đại (MT) tại khu vực Đông Nam Á

Quốc giaMật độ cửa hàng MT (Cửa hàng / 1 triệu dân)Tỷ trọng kênh MT hiện tại (% thị phần)Đặc điểm không gian và tiềm năng phát triển
Việt Nam8119% - 27%

Mật độ rất thấp; tốc độ dịch chuyển sang kênh MT nhanh nhất khu vực; mở rộng mạnh về tỉnh lẻ

Malaysia32250% - 60%

Mật độ cao; thị trường đã đạt trạng thái bão hòa ổn định

Thái Lan36750% - 60%

Mật độ lớn nhất khu vực; kênh hiện đại chiếm lĩnh hầu hết thị trường đô thị

Indonesia173Trung bình - Cao

Thị trường phát triển tốt tại các đảo chính; bắt đầu bão hòa ở đô thị lớn

Khoảng trống lớn này, đặc biệt là tại các tỉnh lẻ và khu vực nông thôn đang đô thị hóa, là đích nhắm của các chiến dịch bành trướng quy mô từ các tập đoàn bán lẻ lớn. Trong số các định dạng bán lẻ hiện đại, mô hình siêu thị mini và cửa hàng tiện lợi đang ghi nhận tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, chiếm hơn 93% tổng số điểm bán hiện đại toàn quốc với 7.483 điểm bán đang hoạt động. Phân khúc này đã duy trì tốc độ tăng trưởng kép hằng năm về số lượng điểm bán đạt tới 18,7% trong 5 năm qua. Điều này cho thấy thói quen tiêu dùng của người dân đang thay đổi nhanh chóng, ưu tiên sự tiện lợi, an toàn vệ sinh thực phẩm và nguồn gốc xuất xứ rõ ràng thay vì chỉ quan tâm đến giá cả tại các khu chợ truyền thống.

Sự trỗi dậy của kênh hiện đại còn được hỗ trợ mạnh mẽ bởi tiến trình số hóa hành vi tiêu dùng. Với việc phần lớn người trưởng thành sở hữu điện thoại thông minh và chuyển sang các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, thói quen mua sắm đa kênh đã trở nên phổ biến. Thống kê cho thấy có tới 62% người tiêu dùng mua sắm tại các kênh hiện đại hằng tuần, 67% sử dụng ứng dụng di động để tìm kiếm chương trình khuyến mãi trước khi mua sắm và 61% thường xuyên sử dụng các phương thức thanh toán số. Sự tích hợp giữa không gian vật lý và không gian số đang buộc các doanh nghiệp bán lẻ phải chuyển dịch từ việc thuần túy mở rộng điểm bán sang tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng thông qua phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo.

Thế trận cạnh tranh giữa doanh nghiệp nội và ngoại

Bản đồ cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam hiện đang ghi nhận sự thống trị tuyệt đối của các doanh nghiệp nội địa. Doanh nghiệp nội chiếm tới 81% tổng số điểm bán hiện đại trên toàn quốc nhờ lợi thế vượt trội về mạng lưới bao phủ sâu rộng tại các khu dân cư. Các thương hiệu lớn như WinCommerce, Bách Hóa Xanh, Co.opmart, Co.opXtra, Lan Chi, FujiMart và BRG Mart đang dẫn dắt thị trường nhờ khả năng thấu hiểu sâu sắc văn hóa tiêu dùng bản địa.

Lợi thế cạnh tranh lớn nhất của doanh nghiệp nội là khả năng đáp ứng thói quen mua sắm thực phẩm tươi sống hằng ngày của người Việt. Sự am hiểu về khẩu vị vùng miền, nhịp sống hằng ngày và tâm lý ưa chuộng hàng Việt Nam chất lượng cao trong danh mục hàng tiêu dùng nhanh cho phép các chuỗi bán lẻ nội địa tùy biến danh mục sản phẩm linh hoạt cho từng điểm bán tại các địa bàn khác nhau từ thành thị đến nông thôn. Ngược lại, các tập đoàn bán lẻ ngoại quốc như AEON hay Central Retail dù rất mạnh ở phân khúc đại siêu thị tại các đô thị lớn nhưng lại gặp nhiều thách thức trong việc mở rộng mạng lưới nhanh chóng và bao phủ sâu vào các khu dân cư do chi phí đầu tư mặt bằng quá lớn.

Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ từ phía Chính phủ đang tạo ra một bệ đỡ vĩ mô vững chắc cho các nhà bán lẻ trong nước. Chiến lược phát triển thị trường trong nước đến năm 2030 định hướng khu vực kinh tế nội địa chiếm khoảng 85% tổng mức bán lẻ hàng hóa, trong khi khu vực FDI chỉ chiếm khoảng 15%. Các chương trình kích cầu tiêu dùng nội địa, kết hợp với việc thắt chặt kiểm soát hóa đơn điện tử, truy xuất nguồn gốc sản phẩm và chiến dịch quảng bá hàng nội địa đang tạo ra một môi trường cạnh tranh minh bạch, lành mạnh, thúc đẩy quá trình sàng lọc thị trường và đem lại lợi thế lớn cho các doanh nghiệp nội địa vận hành bài bản.

Phân tích chiến lược của các doanh nghiệp bán lẻ đầu ngành

Đà phục hồi của sức mua nội địa kết hợp với sự dịch chuyển mạnh mẽ của các kênh phân phối đã phản ánh rõ nét vào kết quả kinh doanh quý đầu năm 2026 của nhiều doanh nghiệp bán lẻ lớn từ trang sức, công nghệ đến thực phẩm và dược phẩm.

Hiệu quả kinh doanh và chiến lược phát triển của các doanh nghiệp bán lẻ tiêu biểu (Giai đoạn 2025-2026)

Doanh nghiệpKết quả tài chính nổi bậtChỉ số tăng trưởng chínhTrọng tâm chiến lược 2026-2030
WinCommerce (WCM)

Doanh thu 9 tháng đầu năm 2025 đạt 28.500 tỷ VND; Quý 3/2025 vượt mốc 10.000 tỷ VND

Doanh thu tăng trưởng 16,6% so với cùng kỳ năm trước

Tăng tốc mở rộng mạng lưới cửa hàng WiN và WinMart+ tại các khu đô thị mới ven trục vành đai; ứng dụng tối đa dữ liệu lớn để cá nhân hóa ưu đãi

Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ)

Doanh thu thuần Quý 1/2026 đạt 17.245 tỷ VND; Lợi nhuận sau thuế đạt 1.467 tỷ VND

Doanh thu tăng 79%, lợi nhuận sau thuế tăng 117%

Tận dụng quá trình siết chặt quản lý thị trường vàng vật chất để thu hút khách hàng sang phân khúc trang sức chính thống có biên lợi nhuận cao

FPT Retail (FRT)

Doanh thu thuần Quý 1/2026 đạt trên 15.158 tỷ VND

Duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ ở cả hai chuỗi FPT Shop và Long Châu

Chiếm lĩnh 30% thị phần dược phẩm qua kênh nhà thuốc trong vòng 3-4 năm tới, thúc đẩy tích hợp hệ sinh thái O2O

Bách Hóa Xanh (MWG)

Định giá chuỗi cửa hàng đạt khoảng 2,16 tỷ USD

Biên lợi nhuận cải thiện rõ rệt nhờ tối ưu hóa chuỗi cung ứng lạnh

Tập trung vào mô hình chuyên gia thực phẩm tươi sống (Value-Fresh Specialist), nâng cao mật độ phủ sóng tại khu vực phía Nam và miền Trung

Công ty cổ phần Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận đã thiết lập mức kỷ lục lịch sử mới trong quý I năm 2026 với doanh thu thuần hợp nhất đạt hơn 17.245 tỷ đồng, tăng 79% so với cùng kỳ, và lợi nhuận sau thuế đạt gần 1.467 tỷ đồng, tăng tới 117%. Kết quả này đạt được một phần nhờ quy mô doanh thu mở rộng mạnh mẽ, một phần nhờ các chính sách quản lý thị trường vàng vật chất được siết chặt, thúc đẩy quá trình sàng lọc ngành và chuyển dịch dòng tiền của người dân sang các thương hiệu trang sức chính thống, minh bạch. Năm 2026, PNJ đặt kế hoạch lợi nhuận sau thuế đầy tham vọng là 3.409 tỷ đồng, tăng trưởng 21% so với năm trước.

WinCommerce đang nổi lên là bên hưởng lợi trực tiếp lớn nhất từ làn sóng hiện đại hóa bán lẻ nhờ sở hữu mạng lưới phân phối lớn nhất cả nước với gần 4.300 cửa hàng WinMart, WiN và WinMart+. Doanh nghiệp này ghi nhận doanh thu quý III năm 2025 vượt mốc 10.000 tỷ đồng, nâng tổng doanh thu 9 tháng đầu năm lên 28.500 tỷ đồng, tăng trưởng 16,6% so với cùng kỳ. Chiến lược của WinCommerce tập trung vào việc áp dụng công nghệ và phân tích dữ liệu để tối ưu hóa chuỗi cung ứng, kiểm soát hàng tồn kho và nhanh chóng bao phủ tại các khu vực đang có tốc độ đô thị hóa nhanh nơi thị trường chưa bị bão hòa bởi các đối thủ ngoại.

Trong lĩnh vực bán lẻ điện tử và dược phẩm, FPT Retail tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ ở cả hai chuỗi FPT Shop và nhà thuốc Long Châu, đạt doanh thu quý I năm 2026 hơn 15.158 tỷ đồng. FPT Retail đặt mục tiêu chiếm lĩnh khoảng 30% thị phần kênh bán dược phẩm qua nhà thuốc trong vòng 3-4 năm tới, đưa mảng dược đóng góp khoảng 40% tổng doanh thu của công ty với quy mô dự kiến đạt khoảng 10.000 tỷ đồng. Doanh nghiệp này vừa được vinh danh trong Top 500 Công ty tốt nhất châu Á - Thái Bình Dương 2026, chứng minh hiệu quả vượt trội của mô hình bán lẻ đa kênh trực tiếp và trực tuyến cùng năng lực quản trị số hóa.

Tại Công ty cổ phần Đầu tư Thế giới Di động, tăng trưởng lợi nhuận cũng ghi nhận những tín hiệu rất khả quan nhờ chiến lược mở rộng hệ thống, gia tăng thị phần và nâng cao hiệu quả vận hành sau giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ. Chuỗi Bách Hóa Xanh của doanh nghiệp hiện được định giá khoảng 2,16 tỷ USD, trở thành chuỗi bán lẻ có giá trị lớn nhất trong hệ sinh thái của tập đoàn. Nhằm gia tăng giá trị cho cổ đông và khẳng định niềm tin vào triển vọng dài hạn, Thế Giới Di Động đã chi tới 2.000 tỷ đồng để mua lại 10 triệu cổ phiếu quỹ trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam khởi sắc mạnh mẽ sau khi vượt ngưỡng 1.300 điểm và đón đầu làn sóng nâng hạng của FTSE Russell.

Mảng bất động sản bán lẻ cũng ghi nhận những chuyển động tích cực đón đầu cơ hội hạ tầng. Vincom Retail đã cho ra mắt Vincom Collection - mô hình khu phố thương mại thế hệ mới nhằm đa dạng hóa trải nghiệm mua sắm giải trí cho khách hàng tại các vùng đô thị mới. Báo cáo thị trường quý I năm 2026 của Savills Việt Nam cho thấy tổng nguồn cung bán lẻ hiện đại tại Hà Nội đã đạt khoảng 1,7 triệu m2 với tỷ lệ lấp đầy toàn thị trường duy trì ở mức cao 89%, cho thấy nhu cầu thuê mặt bằng từ các thương hiệu bán lẻ vẫn vô cùng mạnh mẽ.

Sự bứt phá của các doanh nghiệp đầu ngành còn được hỗ trợ bởi các chính sách tài khóa và tiền tệ nới lỏng của Chính phủ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao khoảng 8%. Việc Quốc hội kéo dài thời gian áp dụng chính sách giảm 2% thuế suất thuế giá trị gia tăng đến hết năm 2026, cùng việc nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ kinh doanh cá thể lên 500 miệu đồng/năm từ ngày 1/1/2026 đã trực tiếp kích thích sức mua nội địa và hỗ trợ các nhà bán lẻ tối ưu hóa chi phí tài chính. Lãi suất quốc tế hạ nhiệt cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lớn tiếp cận các khoản vay hợp vốn quốc tế để cơ cấu nợ và tái đầu tư vào các dự án hạ tầng phân phối hiện đại.

Nhận định và khuyến nghị chiến lược giai đoạn 2026-2030

Sự giao thoa giữa làn sóng đại dự án hạ tầng giao thông đang triển khai và tiến trình đô thị hóa mạnh mẽ trong giai đoạn 2026-2030 đang tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho ngành bán lẻ Việt Nam. Việc tháo gỡ các nút thắt về hạ tầng kết nối liên vùng không chỉ đơn thuần là rút ngắn khoảng cách địa lý, mà là quá trình tái định hình hoàn toàn dòng chảy thương mại và tối ưu hóa cấu trúc chi phí vận hành cho các doanh nghiệp phân phối. Khi chi phí logistics giảm sâu và mạng lưới đường cao tốc phủ rộng, các doanh nghiệp bán lẻ hiện đại sẽ sở hữu ưu thế chiến lược để đưa hàng hóa chất lượng cao tiếp cận trực tiếp đến các vùng ngoại ô và nông thôn với mức giá cạnh tranh nhất, từ đó bẻ gãy thế độc tôn của các chợ truyền thống và hộ kinh doanh nhỏ lẻ.

Để tận dụng tối đa cơ hội từ chu kỳ tăng trưởng vàng này, các doanh nghiệp bán lẻ cần tập trung thực thi các giải pháp chiến lược dài hạn sau đây:

Thứ nhất, chủ động tái định vị mạng lưới phân phối dựa trên bản đồ quy hoạch hạ tầng mới. Doanh nghiệp cần chuyển dịch mô hình phát triển từ việc tập trung tại lõi các đô thị lớn sang việc thiết lập các trung tâm phân phối, kho trung chuyển vệ tinh dọc theo các tuyến đường vành đai và các nút giao cao tốc trọng điểm. Việc bám sát các dự án phát triển đô thị theo mô hình định hướng giao thông công cộng xung quanh hệ thống nhà ga tàu điện ngầm tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh sẽ giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh các điểm nút tiêu dùng có lưu lượng khách hàng lớn và ổn định nhất trong thập kỷ tới.

Thứ hai, đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số toàn diện và tối ưu hóa chuỗi cung ứng bằng dữ liệu. Các doanh nghiệp bán lẻ cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu khách hàng đồng bộ để áp dụng công nghệ phân tích hành vi mua sắm đa kênh trực tiếp và trực tuyến. Việc ứng dụng các giải pháp công nghệ như Internet vạn vật, điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo trong quản trị kho bãi sẽ giúp tối ưu hóa danh mục sản phẩm cho từng cửa hàng theo thời gian thực, giảm thiểu tỷ lệ tồn kho và nâng cao hiệu suất giao nhận hàng hóa.

Thứ ba, củng cố chuỗi cung ứng thực phẩm tươi sống bền vững kết hợp các tiêu chuẩn quản trị thân thiện với môi trường. Trong bối cảnh người tiêu dùng đô thị ngày càng quan tâm đến sức khỏe và bảo vệ môi trường, các doanh nghiệp bán lẻ cần thiết lập mối liên kết chặt chẽ với các vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tại các địa phương để xây dựng chuỗi cung ứng khép kín từ trang trại đến bàn ăn. Việc chủ động áp dụng các giải pháp logistics xanh, hạn chế rác thải nhựa và minh bạch hóa nguồn gốc sản phẩm không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn quản trị hiện đại mà còn là công cụ hữu hiệu nhất để gia tăng lòng trung thành của khách hàng và duy trì vị thế dẫn dắt thị trường trước áp lực cạnh tranh toàn cầu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét